Mối quan hệ giữa protein và ADN

Mối quan hệ giữa protein và ADN trở nên bền vững hơn, điều này cản trở việc ghi nhận thông tin gắn với ADN, hạn chế việc điều tiết gen.
V.V.Frolkis (1989) cho rằng các cơ chế phân tử của sự già hóa là một quá trình nhiều khâu, nhưng cốt lõi của vấn đề là sự rối loạn điều tiết gen, đếm và hiện thực hóa thông tin di truyền. Đó là giả thiết điều tiết gen khi lão hóa do Frolkis đề suất năm 1965. Sự thay đổi các cơ chế điều tiết gen sẽ dẫn đến những hậu quả sau: trước hết làm thay đổi mối tương quan trong tổng hợp các protein khác nhau; thứ hai – làm cho một số gen trước kia không hoạt động bị hoạt hóa; kết quả là xuất hiện các protein mới; thứ ba là làm giảm khả năng tiềm tàng của hệ thống tổng hợp protein; cuối cùng là những thay đổi về mặt sinh tổng hợp protein sẽ tạo ra những rối loạn cấu trúc và chức phận của tế bào.
Trong gia đoạn đầu của sự già hóa những rối loạn ngoài gen giữ vai trò chủ yếu. Đó là sự tổn thương xuất hiện dưới tác động của các yếu tố khác nhau (các gốc tự do, chất độc, các sản phẩm làm giảm oxy mô…) tác động lên các quá trình xảy ra trong sinh chất của tế bào, lên từng phân tử protein riêng biệt. Song nhờ các cơ chế điều tiết gen mà những rối loạn này bị loại đi phần lớn. Kết quả các tiểu thể của tế bào hồi phục lại, các protein sai bị phá huỷ và tổng hợp các protein mới. Mặc dù tồn tại một hệ thống sửa chữa và bảo vệ gen, tuy nhiên sớm hay muộn nó cũng sẽ trở thành mục tiêu tác động của các yếu tố gây tổn thương. Sự rối loạn chính là về mặt hiện thực hóa thông tin di truyền.
Tồn tại khá nhiều bằng chứng cho thấy sự hợp lý của giả thuyết điều tiết gen lúc lão hóa. Những thay đổi đáng kể xuất hiện trong cromatin lúc già. Mối quan hệ giữa protein và ADN trở nên bền vững hơn (Nikitin V.N là người đầu tiên xác định vấn đề này), điều này cản trở việc ghi nhận thông tin gắn với ADN, hạn chế việc điều tiết gen. Mối tương quan giữa các protein histon và không histon cũng thay đổi không giống nhau lúc già. Trong gan của chuột ba tháng tuổi mối tương quan giữa các protein không histon hoạt hóa việc ghi nhân (đếm) thông tin di truyền, nên sự thay đổi mối tương quan giữa chúng sẽ tạo điều kiện chèn ép hoạt tính di truyền.
Theo quy định, cromatin được chia thành hai nhóm: hoạt hóa – eucromatin (liên quan đến đếm, ghi nhận thông tin) và không hoạt hóa – heterocromatin (bao gồm cả những thông tin di truyền không đếm được tại một thời điểm nhất định).